Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013


Chào mừng đến với Hội chợ Du lịch Quốc tế Việt Nam – VITM Hanoi 2013
Để xây dựng thương hiệu Du lịch Việt Nam, góp phần đẩy nhanh sự phát triển của ngành kinh tế du lịch, đưa Việt Nam trở thành điểm đến hàng đầu trong khu vực, Hiệp hội Du lịch Việt Nam tổ chức Hội chợ Du lịch Quốc tế Việt Nam (Vietnam International Travel Mart – VITM ). Hội chợ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Du lịch Việt Nam và các hãng du lịch quốc tế tiếp xúc, ký kết hợp đồng trao đổi khách và giới thiệu sản phẩm, cho các địa phương giới thiệu tài nguyên và sản phẩm du lịch của mình, cho người dân Việt Nam có thể tiếp cận hoặc trực tiếp mua các sản phẩm du lịch Nội địa và Quốc tế. Lần đầu tiên ở Việt Nam, Hội chợ VITM Hà Nội 2013 sẽ thực sự là một “chợ du lịch” cho các công ty và cho công chúng.
Với sự phối hợp của Tổng cục Du lịch và UBND TP. Hà Nội, hội chợ VITM lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội , với tên gọi VITM Hanoi 2013, từ ngày 18 – 21/4/2013
Chủ đề Hội chợ
Hưởng ứng Chương trình Năm Du lịch quốc gia Đồng bằng sông Hồng – Hải Phòng 2013, Hội chợ VITM Hanoi 2013 có chủ đề “Khám phá Đồng bằng sông Hồng – Cội nguồn Văn hóa Việt”.
Triển khai Chương trình Khuyến mại 2013: Hội chợ VITM Hanoi 2013 khuyến khích và hỗ trợ cho các doanh nghiệp du lịch tham gia Chương trình khuyến mại, giới thiệu và chào bán các sản phẩm du lịch tại Hội chợ với giá giảm ít nhất 20% trong mùa du lịch từ tháng 05 đến tháng 12/2013
Mục đích tổ chức
Xây dựng một Hội chợ du lịch Quốc tế thường niên tại Việt Nam, có uy tín, thương hiệu và tính chuyên nghiệp cao nhằm quảng bá hình ảnh của du lịch Việt Nam, góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm đến hàng đầu trong khu vực.
Huy động sự tham gia rộng rãi của các Doanh nghiệp du lịch trong và ngoài nước, tạo cơ hội chia sẻ, kết nối, tìm kiếm đối tác và mở rộng kinh doanh trong lĩnh vực du lịch nội địa, inbound và outbound.
Inbound: 
Khuyến khích các hãng Lữ hành quốc tế đưa khách vào Việt Nam trên cơ sở hợp tác với các hãng lữ hành Việt Nam khai thác các sản phẩm du lịch mới, các điểm du lịch và dịch vụ độc đáo được giới thiệu ở Hội chợ.
Tổ chức các hoạt động tham quan, khảo sát, làm việc cho các Buyer
Nội địa:
Thúc đẩy phát triển Du lịch Nội địa trên cơ sở khuyến khích và tạo điều kiện để các địa phương, các doanh nghiệp du lịch giới thiệu các điểm đến, các sản phẩm du lịch mới, độc đáo của địa phương cho các hang lữ hành nội địa và công chúng
Outbound: 
Khuyến khích các hãng du lịch nước ngoài đang đón và phục vụ khách Việt Nam giới thiệu sản phẩm của mình tại Hội chợ, tạo môi trường cạnh tranh, nâng cao giá trị của thị trường du lịch Việt Nam trên trường quốc tế.
Tổ chức các hoạt động xúc tiến, các sự kiện du lịch, các hoạt động nghề nghiệp để thu hút sự quan tâm và tham gia của đông đảo các doanh nghiệp du lịch trong và ngoài nước. Góp phần nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, vị thế của ngành du lịch trong phát triển kinh tế xã hội.
Xem thêm thông tin: http://vitm.vn

Giới thiệu mô hình khách sạn Xanh tại triển lãm VITM

Giới thiệu mô hình khách sạn Xanh tại triển lãm VITM
Bạn làm việc trong ngành khách sạn, bạn biết gì về năng lượng xanh? Bạn đã biết cách ứng dụng năng lượng xanh và các giải pháp tiết kiệm năng lượng/ nước cho khách sạn của bạn hay chưa?
Tại Triển lãm quốc tế du lịch Việt Nam 2013, Dự án MEET-BIS Việt Nam xin mời bạn đến thăm quan gian trưng bày “Mô hình Khách sạn xanh – tiết kiệm năng lượng/ nước” do Dự án phối hợp với các nhà cung cấp thiết bị tiết kiệm năng lượng/ nước Hoàng Ngọc, Ánh Sao, Nguyên Phát, BK Solar và Caesar thực hiện.
Gian trưng bày là một mô hình khách sạn xanh – tiết kiệm năng lượng/ nước thu nhỏ, sử dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng/ nước thân thiện với môi trường và phù hợp với khối khách sạn nhất. Các giải pháp này được kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp giảm từ 25 – 60% chi phí tiền điện/ nước. Tại gian trưng bày của Dự án MEET-BIS luôn có các nhân viên kỹ thuật sẵn sàng cung cấp và tư vấn cho bạn thông tin về những giải pháp tiết kiệm năng lượng/ nước phù hợp với thực trạng của doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp đạt được hiệu quả tiết kiệm năng lượng cao nhất.
Sử dụng năng lượng xanh và tiết kiệm năng lượng/ nước là xu thế của các khách sạn lớn trên thế giới. Đây cũng là xu thế tất yếu của các khách sạn ở Việt Nam để phát triển bền vững ngành du lịch và tăng doanh thu cho các chủ doanh nghiệp. Đi đôi với mục tiêu đó, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã đề ra chương trình Nhãn Bông sen Xanh dành cho các cơ sở lưu trú du lịch. Nhãn Bông sen xanh là nhãn hiệu cấp cho các cơ sở lưu trú du lịch đạt tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng, góp phần bảo vệ các di sản, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương. Việc thực hiện các tiêu chí của Nhãn Bông sen xanh, giúp sở lưu trú du lịch nâng cao hình ảnh, sức cạnh tranh, tăng sức hấp dẫn đối với khách du lịch, đặc biệt nhóm khách du lịch có ý thức cao về bảo vệ môi trường như khách châu Âu, Mỹ, Nhật Bản (thường là nhóm khách có khả năng chi trả cao), đồng thời giảm chi phí quản lý và tăng hiệu quả kinh doanh.
Thông tin cụ thể về Nhãn Bông sen xanh, chương trình Du lịch có trách nhiệm và các giải pháp tiết kiệm năng lượng/ nước cho ngành khách sạn sẽ được cung cấp đầy đủ trong buổi hội thảo “Hoạt động du lịch có trách nhiệm với môi trường dành cho các cơ sở lưu trú”, do dự án MEET-BIS Việt Nam phối hợp với Dự án Du lịch có trách nhiệm, Tổng cục Du lịch Việt Nam và Hiệp hội Khách sạn Việt Nam tổ chức. Hội thảo sẽ diễn ra trong khu vực phòng họp của Cung văn hóa Hữu Nghị Việt Xô, vào lúc 13.50 ngày 19 tháng tư năm 2013.
Dự án MEET-BIS mong chờ được đón chào bạn tại triển lãm triển lãm quốc tế du lịch Việt Nam, gian trưng bày số 254 – 257 tại nhà triển lãm B1, Cung Văn hóa Hữu nghị Việt Xô từ ngày 18 – 21 tháng tư năm 2013, và tham dự buổi hội thảo của chúng tôi.
Vũ Oanh – Dự án MEET-BIS Việt Nam

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013


Hợp tác thúc đẩy và quảng bá du lịch có trách nhiệm giữa dự án du lịch có trách nhiệm và dự án MEET-BIS

Hợp tác thúc đẩy và quảng bá du lịch có trách nhiệm giữa dự án du lịch có trách nhiệm và dự án MEET-BIS
Ngày nay, khái niệm “Du lịch có trách nhiệm” không là một loại hình du lịch mới, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng. Bản chất của loại hình du lịch này chứa đựng những đặc trưng của phát triển du lịch bền vững, tuy nhiên nó mang tính phổ quát, định hướng cao hơn và thậm chí điều chỉnh tất cả các loại hình du lịch khác nhằm hướng mục tiêu phát triển ngành du lịch đạt tới sự hài hòa, đem lại lợi ích bình đẳng cho tất cả chủ thể tham gia vào quá trình phát triển du lịch. Đồng thời, nó góp phần đáng kể trong việc hỗ trợ cho việc tạo dựng nên một môi trường lành mạnh vì lợi ích kinh tế-xã hội.
Để thúc đẩy và quảng bá sâu rộng khái niệm du lịch có trách nhiệm đến các cơ sở lưu trú dụ lịch, gắn kết cùng việc quảng bá Nhãn du lịch bền vững Bông sen xanh do tổng cục du lịch phát hành với các tiêu chí cụ thể giúp cơ sở lưu trú tự đánh giá và nhận biết các hoạt động của mình và các ảnh hưởng đến môi trường, kinh tế xã hội tại địa phương, đồng thời giới thiệu và tư vấn cho các cơ sở lưu trú du lịch về những công nghệ, giải pháp và cách thức quản lý giúp nâng cao hiệu quả việc sử dụng nguồn năng lượng/nước, đảm bảo các tiêu chí du lịch có trách nhiệm hướng đến phát triển du lịch bền vững, dự án MEET-BIS đã phối hợp cùng Dự án du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội  (ESRT) xây dựng các hoạt động chung tại một số địa phương du lịch trọng điểm.
Sự hợp tác giữa hai dự án cùng do EU tài trợ, nhằm không chỉ đem đến cho các doanh nghiệp khách sạn những kiến thức cơ bản cùng với những kinh nghiệm thực tế triển khai du lịch có trách nhiệm tại Việt nam và trên thế giới, mà còn giúp các doanh nghiệp tiếp cận, tìm hiểu các giải pháp cụ thể giúp nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng/nước tại doanh nghiệp, đây cũng là một trong các tiêu chí góp phần bảo vệ môi trường, giảm khí phác thải nhà kính, bảo tồn tài nguyên.
Dự án MEET-BIS không chỉ tư vấn, giới thiệu giải pháp mà còn kết nối các doanh nghiệp khách sạn với các nhà cung cấp thiết bị năng lượng/nước hiệu quả thông qua các mô hình trình diễn giải pháp, triển lãm thiết bị. Dự án MEET-BIS hy vọng giúp các doanh nghiệp trong lĩnh vực khách sạn có cái nhìn đầy đủ và khách quan  về lợi ích kinh tế, lợi ích đối với môi trường và xã hội mà các giải pháp này mang lại. Những bài toán lợi ích kinh tế giản đơn giữa vốn đầu tư, lợi ích tiết kiệm và thời gian hoàn vốn của từng giải pháp sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả đầu tư.
Trong khuôn khổ hoạt động chung, Dự án MEET-BIS và dự án ESRT cùng đồng hành và nhận được sự hậu thuẫn rất kịp thời của Vụ KS Tổng cục du lịch, sở du lịch các địa phương và hiệp hội khách sạn Việt nam. Hai bên cùng kỳ vọng rằng với các mục tiêu đã đề ra, với sự hợp tác chặt chẽ và hiệu quả của các bên tham gia, chuỗi hoạt động chung này sẽ góp phần cải thiện các hoạt động du lịch tại việt nam theo hướng có trách nhiệm hơn và tạo đà cho sự phát triển của thị trường tiết kiệm năng lượng /nước vốn được coi là rất tiềm năng trong nhiều năm trở lại đây.

4th April 2013 | Meet-Bis / Phát triển bền vững 

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

Ứng dụng công nghệ chiếu sáng tiết kiệm năng lượng trong các công trình tại Đà Nẵng



Ứng dụng công nghệ chiếu sáng tiết kiệm năng lượng trong các công trình tại Đà Nẵng
Sử dụng năng lượng tiết kiệm và có hiệu quả là một trong những quy định mà chính phủ đã ban hành nhằm mục đích đảm bảo nguồn năng lượng mang tính lâu dài cho đất nước. Bởi hiện nay nhu cầu đời sống ngày càng nâng cao, dân số tăng nhanh năng lượng sử dụng càng nhiều sẽ ảnh hưởng đến môi trường sống, nguồn tài nguyên bị cạn kiệt và sẽ làm biến đổi khí hậu. Trách nhiệm sử dụng tiết kiệm năng lượng là trách nhiệm chung của cả cộng đồng và cả xã hội. Mỗi một lĩnh vực, mỗi ngành nghề cần có những thay đổi trong việc sử dụng năng lượng nhằm giảm thiểu. Đối ngành xây dựng Đà Nẵng, ngoài việc thiết kế các công trình tiết kiệm năng lượng, công trình kiến trúc xanh, sử dụng vật liệu xanh thì việc ứng dụng công nghệ chiếu sáng tiết kiệm năng lượng trong các công trình công cộng, các tòa nhà cao tầng cũng đã được Đà Nẵng hướng đến.
Sử dụng tiết kiệm năng lượng xây dựng thành phố bền vững.
Theo báo cáo của Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và tiết kiệm năng lượng thuộc Tổng cục Năng lượng Phương Hoàng Kim thì: Điện năng tiêu thụ tại Việt Nam hiện tăng 3 lần trong vòng 10 năm qua và dự báo sẽ tăng gấp 3 lần trong vòng 20 năm tới. Chính phủ đã đưa chính sách và khung pháp lý về sử dụng năng lượng có hiệu quả và chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đưa ra phải tiết kiệm từ 5-8% tổng tiêu thụ năng lượng trong giai đoạn 2011-2015. Để thực hiện chương trình mục tiêu này cần phải khai thác tối ưu năng lực và hiệu quả về tiết kiệm năng lượng đối với các thiết bị, máy móc và tài chính cho công tác tiết kiệm năng lượng. Hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả ở Việt Nam mới ở giai đoạn đầu. Để thực hiện thành công việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần có sự chung tay của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và toàn xã hội.
Chung tay trong việc sử dụng năng lượng hiệu quả và tiết kiệm, ngày 15/3 vừa qua, Sở Xây dựng Đà Nẵng đã tổ chức Hội thảo chuyên ngành kỹ thuật liên quan đến việc sử dụng công nghệ chiếu sáng tiết kiệm năng lượng trong các tòa nhà cao tầng và các công trình xây dựng tại Đà Nẵng. Tham gia hội thảo có các nhà đầu tư, nhà xây dựng, tư vấn thiết kế, kiến trúc sư, đây là đội ngũ sẽ góp phần vào việc tư vấn, thiết kế về sử dụng tiết kiệm năng lượng trong lĩnh vực xây dựng. Ông Lê Tùng Lâm, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Đà Nẵng cho biết: Đây là Hội thảo kỹ thuật về năng lượng đầu tiên do Sở Xây dựng tổ chức. Mục đích của Hội thảo nhằm giới thiệu những giải pháp, ứng dụng mới về tiết kiệm năng lượng chiếu sáng trong các tòa nhà để cho các nhà tư vấn, nhà thiết kế, các nhà đầu tư hiểu rõ hơn và có nhiều lựa chọn hơn về các công nghệ tiết kiệm năng lượng hiện nay. Đồng thời thông qua hội thảo sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp, phản hồi về việc ứng dụng công nghệ chiếu sáng tiết kiệm năng lượng hiện nay, những vướn mắc về hệ thống văn bản pháp luật liên quan sử dụng trong thực tế để có kiến nghị điều chỉnh cho phù hợp hơn.
Đà Nẵng là địa phương có ít tiềm năng về năng lượng để khai thác nên việc sử dụng năng lượng điện gần như chiếm tuyệt đối. Để xây dựng và phát triển thành phố bền vững trong đó sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Đà Nẵng đang giải bài toán năng lượng và phát triển theo hai hướng đó là sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn năng lượng hóa thạch kết hợp với ứng dụng, thúc đẩy các mô hình sử dụng năng lượng tái tạo. Điện năng tiêu thụ trung bình của Đà Nẵng là 21% từ năm 2007 đến nay, trong đó sản lượng điện sử dụng tại các tòa nhà tăng 25%. Do đó việc sử dụng nămg lượng tiết kiệm và hiệu quả cho Đà Nẵng là một việc làm hết sức cấp bách và cần thiết hiện nay.
Công nghệ mới của Philips về tiết kiệm năng lượng.
Tại Hội nghị toàn cầu về biến đổi khí hậu COP18 diễn ra tại Doha, Qatarvào tháng 12.2012 vừa qua, Philips đã kêu gọi các Chính phủ, người dân, cộng đồng doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng chiếu sáng hiệu quả năng lượng để tiết kiệm chi phí, giảm thiểu khí thải nhà kính. Cuộc cách mạng công nghệ chiếu sáng LED đã mang đến những cơ hội tiết kiệm năng lượng quan trọng. Đèn LED sẽ tiết kiệm nhiều điện năng hơn các loại đèn dây tóc truyền thống. Một trong những nổ lực mà Philips đang hướng đến đó là phát triển sản phẩm với các giải pháp chiếu sáng tiết kiệm năng lượng trong các tòa nhà và cùng chung tay xây dựng tòa nhà xanh. Bên trong mỗi tòa nhà chiếu sáng tiêu thụ bình quân khoảng 35% tổng điện năng của tòa nhà. Chính vì thế trong nhiều năm qua, Philips đã có nhiều nổ lực tạo ra nhiều giải pháp chiếu sáng tiên tiến, thân thiện với môi trường, tiết kiệm chi phí năng lượng bằng công nghệ LED mới nhất có khả năng tiết kiệm 70% năng lượng cho tòa nhà. Với các sản phẩm và các giải pháp tiết kiệm năng lượng hiện nay của Philips sẽ góp phần xây dựng một thế giới phát triển bền vững hơn.
Tại Đà Nẵng, Philips đã tham gia nhiều dự án tiết kiệm năng lượng cho các công trình. Ông Nguyễn Tín, Phụ Trách khu vực Miền Trung cho biết: Với công nghệ đèn LED tiết kiệm năng lượng của Philips hiện nay được nhiều doanh nghiệp sử dụng. Philips đã tham gia dự án chiếu sáng mỹ thuật cầu Thuận Phước, Nhà ga sân bay quốc tế Đà Nẵng, Bệnh viện ung bướu, tòa nhà Azura, khu resort Fusion Maiya và một số khách sạn lớn. Hiện nay Philips đang tham gia hệ thống chiếu sáng trang trí của công trình Cầu Rồng, cầu Trần Thị Lý, đây là hai dự án trọng điểm của Đà Nẵng chuẩn bị đưa vào sử dụng.
26th March 2013 | Tin Từ Các Đối Tác 

MAR 27 CHUỖI TỌA ĐÀM MARKETING & BÁN HÀNG TRONG THỊ TRƯỜNG TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG & NƯỚC


Event: Tọa đàm Marketing & Bán hàng: Xây dựng tài liệu marketing (tờ rơi, brochure)

Time to event: 00 days - 02 hours - 46 minutes - 01 seconds
Tọa đàm Marketing & Bán hàng: Xây dựng tài liệu marketing (tờ rơi, brochure)
MAR
27
CHUỖI TỌA ĐÀM MARKETING & BÁN HÀNG TRONG THỊ TRƯỜNG TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG & NƯỚC
Thời gian: 18.00 – 20.00 Thứ Tư, 27 tháng 03 năm 2013
Địa điểm: Văn Việt Café – 36 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Đối tượng: Nhà cung cấp thiết bị tiết kiệm năng lượng/ nước, Nhà cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh
Thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững là mục tiêu của chương trình SwitchAsia do EU tài trợ. Tuy nhiên các dự án trong chuỗi chương trình SwitchAsia chỉ có thời gian hoạt động tối đa không quá 48 tháng trong khi phát triển bền vững là mục tiêu lâu dài và nhiều thách thức trên toàn cầu nói chung và tại châu Á nói riêng. Ngoài việc các dự án của SwitchAsia được triển khai liên tục, nối tiếp nhau nhằm tận dụng kết quả thành tựu các dự án đi trước, thì vấn đề đặt ra làm thế nào để chính bản thân các dự án có tính bền vững ngay cả khi dự án đã kết thúc.
Bước vào năm hoạt động cuối cùng 2013, dự án MEET-BIS Việt Nam đã lên kế hoạch phát triển bền vững tổng thể nhằm tận dụng tối đa các kinh nghiệm, kiến thức tích lũy được chuyển giao cho các bên liên quan. Cuối tháng 2/2013 vừa rồi, dự án MEET-BIS đã triển khai chương trình tập về marketing và bán hàng cho các nhà cung cấp đối tác của dự án. Khóa tập huấn kéo dài trong 2 ngày đã giúp người tham gia nâng cao kỹ năng, kinh nghiệm trong bán hàng và marketing của mình. Bên cạnh khóa đào tạo chính thức, một khóa đào tạo bán chính thức được tổ chức trong tháng 3 – 4/ 2013 dưới hình thức trao đổi kinh nghiệm, thảo luận trực tiếp. Đây là một buổi thảo luận mở kéo dài 2 tiếng về các vấn đề liên quan đến marketing và bán hàng nhằm thúc đẩy thị trường TKNL. Dẫn dắt chương trình là các Giảng viên của trường Đại học Kinh tế Quốc dân và chuyên gia đào tạo từ Hà Lan.
Đăng ký xin vui lòng gửi tới:
Ms. Đỗ Vân Anh (Mobile: 0988 859 227, Email: anh.do@meet-bis.vn)

Hội thảo : Hoạt động du lịch có trách nhiệm với môi trường dành cho các cơ sở lưu trú tại Hạ Long


Hội thảo : Hoạt động du lịch có trách nhiệm với môi trường dành cho các cơ sở lưu trú tại Hạ Long


Hội thảo : Hoạt động du lịch có trách nhiệm với môi trường dành cho các cơ sở lưu trú tại Hạ Long
Trong khuôn khổ hợp tác giữa dự án MEET-BIS và dự án ESRT nhằm thúc đẩy du lịch có trách nhiệm với môi trường thông qua việc bảo tồn tài nguyên năng lượng/nước, ngày 21/3/2013 vừa qua, hội thảo “Hoạt động du lịch có trách nhiệm với môi trường dành cho các cơ sở lưu trú” đã được tổ chức tại thành phố Hạ long, tỉnh Quảng Ninh, một trong những thành phố du lịch nổi tiếng nhất của Việt Nam với di sản thiên nhiên hai lần được UNESCO công nhận và là 1 trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới mới, vịnh Hạ Long.
Đến dự hội thảo có ông Trịnh Đăng Thanh, phó giám đốc sở VHTTDL Quảng Ninh, bà Nguyễn Thị Bảo chủ tịch Hiệp hội du lịch Quảng Ninh, bà Lê Mai Khanh, vụ phó vụ Khách sạn Tổng cục du lịch Việt nam, đại diện Hiệp hội khách sạn Việt Nam, các cơ quan thông tấn báo chí địa phương. Buổi hội thảo thu hút trên 83 khách tham dự đến từ hơn 74 doanh nghiệp khách sạn, nhà hàng và tàu ngủ lưu trú trên địa bàn tỉnh. Mặc dù buổi hội thảo chính thức khai mạc lúc 9h sáng nhưng đại diện các doanh nghiệp đã có mặt tại khách sạn Grand Hạ Long, nơi tổ chức hội thảo từ rất sớm. Bởi bên lề hội thảo, các nhà cung cấp đối tác của dự án MEET-BIS đã trình diễn và trưng bày các sản phẩm, giải pháp, công nghệ mới giúp sử dụng năng lượng/nước hiệu quả ngay trong khuôn viên phòng hội thảo. Ngay trước giờ khai mạc hội thảo, đại diện các doanh nghiệp đã trực tiếp thăm quan, tìm hiểu và nhận được tư vấn cụ thể của các nhà cung cấp. 
Hội thảo là cơ hội giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn khái niệm và cách thức triển khai, áp dụng các hoạt động du lịch có trách nhiệm với môi trường. Chuyên gia đến từ dự án ESRT, ông Trương Nam Thắng chia sẻ với hội thảo về việc xác định mục tiêu thực hiện du lịch có trách nhiệm với môi trường, “các bạn hãy nghĩ về chính mình khi xây dựng kế hoạch hoạt động du lịch có trách nhiệm với môi trường, các bạn đang kinh doanh và khai thác du lịch trên địa bàn, con cháu các bạn cũng sẽ tiếp tục kinh doanh, vậy nếu các điểm du lịch ở tại nơi đây không được bảo tồn, bị tàn phá, vậy nó sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến kinh doanh của chính bạn”. Đó là những lợi ích lâu dài mà doanh nghiệp sẽ đạt được từ ý thức đối với môi trường. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng có thể đạt được những lợi ích ngắn hạn như tiết kiệm chi phí kinh doanh, chi phí cơ hội khi xem xét lại thực trạng sử dụng năng lượng/nước của mình thông qua những biện pháp quản lý, kiểm soát, nâng cao hiệu quả các thiết bị hiện có và đầu tư nâng cấp các thiết bị kém hiệu quả bằng những giải pháp công nghệ mới, giúp tiết kiệm năng lượng/nước tối đa được giới thiệu bởi chuyên gia đến từ dự án MEET-BIS và hơn thế là sự trình diễn thực tế của các nhà cung cấp.
Hội thảo cũng mang đến thông tin về cơ hội đầu tư bình nước nóng năng lượng mặt trời cho các doanh nghiệp với việc giới thiệu mô hình đầu tư ESCO đang được phối hợp thực hiện giữa Công ty Mặt trời Bách Khoa và Hiệp hội khách sạn Việt Nam. Đại diện Tổng cục du lịch cũng chia sẻ tại hội thảo về sự phát triển của du lịch Việt Nam trong những năm qua và kết quả triển khai gắn nhãn Bông sen xanh cho các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn cả nước. bà Lê Mai Khanh cho biết “điều đáng tiếc là cho đến hiện nay với hơn 25 khách sạn tại 8 tỉnh được cấp chứng nhận nhãn Bông sen xanh, lại chưa có hồ sơ nào từ tỉnh Quảng Ninh, mặc dù chúng tôi biết và chắc chắn rằng, rất nhiều các khách sạn ở đây có thể đạt được giấy chứng nhận này”. Kết thúc hội thảo, ông Trịnh Đăng Thanh, phó giám đốc sở VHTTDL tỉnh Quảng Ninh khẳng định: “Năm 2012, Quảng Ninh đạt 7 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 2,4 triệu lượt khách quốc tế, khách quốc tế đến Quảng Ninh chủ yếu là đến vịnh Hạ Long. Mặc dù Quảng Ninh có nhiều ngành kinh tế khác nhau, nhưng nói gì thì nói, nói đến Quảng Ninh, nói đến Hạ Long là nói đến du lịch, dù là với trong nước hay với quốc tế. Than khai thác mãi cũng phải hết, đất khai thác mãi cũng sẽ không còn, nhưng di sản thiên nhiên và cảnh quan thì còn mãi, đó là cơ hội kinh doanh của chúng ta bây giờ và cả sau này, vậy thì vai trò của doanh nghiệp sử dụng là phải bảo tồn di sản”. Ông Thanh cũng đánh giá cao sự quan tâm đặc biệt của Tổng cục du lịch, các dự án ESRT, MEET-BIS và các nhà cung cấp đối với du lịch Quảng Ninh và hy vọng tất cả các bên sẽ cùng chung tay hành động vì du lịch Quảng Ninh phát triển bền vững.
IMG_7139
Tham dự hội thảo, chị Vũ Thị Lan, giám đốc khách sạn Blue Sky, một trong những khách sạn điển hình áp dụng giải pháp công nghệ mới năng lượng hiệu quả chia sẻ “Tôi đã đầu tư hệ thống bơm nhiệt cấp nước nóng cho khách sạn thay cho lò hơi chạy dầu, mỗi tháng tôi tiết kiệm được 15 triệu đồng, tôi không biết nhiều về kỹ thuật nhưng tôi có thể cung cấp những con số tiết kiệm cụ thể và ấn tượng, và tôi rất sẵn lòng mời các anh chị doanh nghiệp quan tâm có thể đến kiểm nghiệm tận mắt giải pháp mà tôi đang sử dụng. Vì sự phát triển bền vững chung của du lịch Quảng Ninh, tôi cũng rất muốn chia sẻ những lợi ích này và mong muốn các doanh nghiệp hãy cân nhắc và đầu tư thông minh như tôi”.
Nhân hội thảo này, các nhà cung cấp tham gia trưng bày sản phẩm đã dành các phần quà tặng là các bộ bóng đèn tiết kiệm năng lượng Compact Osram và đèn huỳnh quang T5 YAKON cho các doanh nghiệp may mắn trong phần bốc thăm trúng thưởng cuối chương trình. Với ý nghĩa “quà tặng nhỏ, dấu ấn lớn”, đơn vị tổ chức và các nhà cung cấp hy vọng rằng dấu ấn này sẽ giúp hiện thực hóa kế hoạch hành động của mỗi doanh nghiệp vì lợi ích của chính mình, vì sự phát triển của du lịch Quảng Ninh và vì môi trường.
Đỗ Thúy Hà – Dự án MEET-BIS Việt Nam

Thứ Tư, 13 tháng 3, 2013

CHUỖI TỌA ĐÀM MARKETING & BÁN HÀNG TRONG THỊ TRƯỜNG TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG & NƯỚC – 20/03


Event: CHUỖI TỌA ĐÀM MARKETING & BÁN HÀNG TRONG THỊ TRƯỜNG TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG & NƯỚC – 20/03

Thời gian: 18.00 – 20.00 Thứ Tư, 20 tháng 03 năm 2013
Địa điểm: Văn Việt Café – 36 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Đối tượng: Nhà cung cấp thiết bị tiết kiệm năng lượng/ nước, Hiệp hội, Nhà cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh
Thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững là mục tiêu của chương trình SwitchAsia do EU tài trợ. Tuy nhiên các dự án trong chuỗi chương trình SwitchAsia chỉ có thời gian hoạt động tối đa không quá 48 tháng trong khi phát triển bền vững là mục tiêu lâu dài và nhiều thách thức trên toàn cầu nói chung và tại châu Á nói riêng. Ngoài việc các dự án của SwitchAsia được triển khai liên tục, nối tiếp nhau nhằm tận dụng kết quả thành tựu các dự án đi trước, thì vấn đề đặt ra làm thế nào để chính bản thân các dự án có tính bền vững ngay cả khi dự án đã kết thúc.
Bước vào năm hoạt động cuối cùng 2013, dự án MEET-BIS Việt Nam đã lên kế hoạch phát triển bền vững tổng thể nhằm tận dụng tối đa các kinh nghiệm, kiến thức tích lũy được chuyển giao cho các bên liên quan. Cuối tháng 2/2013 vừa rồi, dự án MEET-BIS đã triển khai chương trình tập về marketing và bán hàng cho các nhà cung cấp đối tác của dự án. Khóa tập huấn kéo dài trong 2 ngày đã giúp người tham gia nâng cao kỹ năng, kinh nghiệm trong bán hàng và marketing của mình. Bên cạnh khóa đào tạo chính thức, một khóa đào tạo bán chính thức được tổ chức trong tháng 3 – 4/ 2013 dưới hình thức trao đổi kinh nghiệm, thảo luận trực tiếp. Đây là một buổi thảo luận mở kéo dài 2 tiếng về các vấn đề liên quan đến marketing và bán hàng nhằm thúc đẩy thị trường TKNL. Dẫn dắt chương trình là các Giảng viên của trường Đại học Kinh tế Quốc dân và chuyên gia đào tạo từ Hà Lan.
Đăng ký xin vui lòng gửi tới:
Ms. Đỗ Vân Anh (Mobile: 0988 859 227, Email: anh.do@meet-bis.vn)
http://vn.meet-bis.vn/event/chuoi-toa-dam-marketing-ban-hang-trong-thi-truong-tiet-kiem-nang-luong-nuoc-2003

Event: Mini workshop on Sales & Marketing: Database management & Development


Event: Mini workshop on Sales & Marketing: Database management & Development


Time: 18.00 – 20.00 Wednesday, 13 March 2013
Venue: Van Viet Cafe’ – 36 Ly Thuong Kiet Str,  Hoan Kiem Dist, Hanoi
Participant: Energy efficiency and water saving suppliers, Associations, Business development service Providers
The aim of the SwitchAsia Program sponsored by EU is to promote sustainable manufacture and consumption. This sustainable development is the long-term and ambitious goal not only in Asia, but also in the whole world whereas the projects of the program last for no longer than 48 months. In addition, the projects are always implemented one after another in order to deploy the results of the previous ones for the next ones and for their own sustainability even when they are done…
MEET-BIS planed to share the knowledge of the sustainable development with all of its partners in order to make sure that SMEs in Vietnam will continue using energy efficiently and developing business sustainably after the project ends in 2013. On 27 – 28 February 2013 MEET-BIS Vietnam Project has organized a training course for energy efficiency and water saving suppliers. The 2-day training course is a practical course to help sales team of MEET-BIS technical suppliers to sharpen their skills and experiences in sales and marketing. Together with this course, on March – April 2013, MEET-BIS Vietnam Project going to organize some short open workshops (2 hours workshop) on sales & marketing. This workshop is a chance for people who interested in promoting for energy efficiency and water saving sharing their knowledge or learning from others. Facilitating the workshops are lecturers from National Economic University and Professional come from Netherlands.
Please contact Ms. Van Anh Do (Mobile: 0988 859 227, email: anh.do@meet-bis.vn) to register or for more information
http://meet-bis.vn/event/mini-workshop-on-sales-marketing-database-management-development

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

Hà Nội sẽ thiếu điện


Theo Quy hoạch phát triển điện lực TP Hà Nội và tỉnh Hà Tây (cũ), giai đoạn năm 2006-2010 có xét đến năm 2015 đã được Bộ Công thương phê duyệt, trong giai đoạn năm 2006-2010 khối lượng các công trình lưới điện 220kV-110kV cần được đầu tư xây dựng rất lớn.
Tuy nhiên, khối lượng thực tế đạt được thấp hơn nhiều so với dự kiến, nhất là lưới điện 220kV đã không đóng điện được một công trình nào (trừ TBA 220kV Vân Trì đã xây dựng xong, nhưng đường dây đấu nối lại chưa xây dựng).
Công nhân chi nhánh điện Thanh Trì lắp mới trạm biến áp tại thị trấn Văn Điển. Ảnh: Trung Kiên
Đã từng... chậm tiến độ
Để bảo đảm cung cấp điện cho Hà Nội trong các năm 2010, 2011, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép Tập đoàn EVN và Tổng Công ty Điện lực TP Hà Nội (EVN HNPC) đầu tư các công trình cấp bách. Theo đó, mỗi trạm 220kV Chèm, Hà Đông, Mai Động đã được nâng công suất lên 250MVA, hoàn thành xây dựng trạm 220kV Vân Trì và cải tạo thay dây 220kV Thường Tín - Mai Động; đóng điện đưa vào vận hành 24 công trình lưới điện 110kV với tổng công suất các trạm 110kV tăng thêm 459MVA và 81,5km đường dây.
Vì vậy, năm 2010-2011, về cơ bản lưới điện đã bảo đảm cung cấp cho Hà Nội phục vụ sản xuất, đời sống sinh hoạt của nhân dân và các sự kiện chính trị - xã hội quan trọng. Tuy nhiên, do năm 2011 không có công trình lưới điện 220kV xây mới nào được thực hiện, nên hiện nay hầu hết lưới điện 220kV cấp điện cho Hà Nội vận hành trong tình trạng đầy tải, quá tải.
EVN HNPC cho biết, năm 2012 nhu cầu tiêu thụ điện của Hà Nội được tính toán theo 2 phương án cao và cơ sở. Theo đó, phương án cơ sở, điện thương phẩm tăng trưởng 13% so với năm 2011, tương ứng với sản lượng 10,76 tỷ kWh, công suất khoảng 2.400MW; phương án cao, điện thương phẩm tăng trưởng 14% so với năm 2011, tương ứng sản lượng điện 10,86 tỷ kWh. Tốc độ tăng trưởng dự báo cao hơn dự kiến đã được phê duyệt tại quy hoạch phát triển điện lực Hà Nội giai đoạn 2011-2015 có xét đến năm 2020. Theo báo cáo, đến nay EVN đã hoàn thành đưa vào vận hành các công trình lưới điện 500kV quan trọng xung quanh TP Hà Nội và tăng cường khả năng truyền tải công suất từ các nguồn điện lớn như Nhà máy thủy điện Hòa Bình, các nhà máy nhiệt điện khu Đông Bắc để cấp điện cho Hà Nội, như trạm 500kV Quảng Ninh, máy 2 trạm 500kV Thường Tín, máy 2 trạm 500kV Nho Quan, trạm 500kV Hiệp Hòa và các đường dây 500kV Quảng Ninh - Thường Tín, Sơn La - Hiệp Hòa. Như vậy, kết cấu lưới điện 500kV xung quanh khu vực Hà Nội hoàn toàn đáp ứng cung cấp điện an toàn tin cậy cho Hà Nội trong năm 2012. Nhưng, việc bảo đảm cung cấp điện cho Hà Nội trong năm nay cũng như các năm tiếp theo sẽ phụ thuộc nhiều vào tiến độ đầu tư xây dựng và đóng điện vận hành của các công trình lưới điện 220kV-110kV. Cụ thể, quý I năm nay, EVN sẽ đưa vào vận hành đường dây 500kV Sơn La - Hiệp Hòa để truyền tải công suất từ Nhà máy thủy điện Sơn La tới khu vực phía bắc Hà Nội. Việc truyền tải để cấp điện cho Hà Nội sẽ không thực hiện được, nếu các đường dây 220kV Vân Trì - Sóc Sơn và Vân Trì - Chèm chậm tiến độ.
Tiếp tục chậm, Hà Nội sẽ thiếu điện
Để đáp ứng nhu cầu phụ tải của Hà Nội khoảng 2.400MW, theo dự kiến sẽ cần nhu cầu tổng dung lượng các trạm 220kV trên địa bàn khoảng 3.200MVA. Trong khi đó, đến nay tổng công suất các trạm 220kV trên địa bàn Hà Nội mới có 2.750MVA, do vậy để đáp ứng nhu cầu điện cho Hà Nội trong năm nay cần bổ sung công suất khoảng 500MVA cho trạm 220kV và quan trọng là phải đưa vào vận hành đường dây 220kV Vân Trì - Sóc Sơn trước tháng 5 mới bảo đảm cung cấp điện cho Hà Nội trong mùa khô. Trong trường hợp không có thêm trạm 220kV nào được vận hành, năm nay Hà Nội sẽ chỉ có 5 trạm/11 máy biến áp 220kV và hỗ trợ từ TBA 220kV Phố Nối. Như vậy, khu vực Hà Nội sẽ luôn trong tình trạng đầy, quá tải ngay cả trong chế độ vận hành bình thường, thậm chí có thể quá tải đến 150% khi bị sự cố. Kể cả trong trường hợp nhu cầu phụ tải tăng trưởng thấp hơn với dự báo vẫn xảy ra tình trạng lưới điện bị đầy tải, quá tải. Đáng lo ngại, các đường dây bị đầy tải, quá tải đều là các đường dây có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cung cấp điện cho Hà Nội, như các trạm 220kV Chèm, Hà Đông, Mai Động, các đường dây 220kV Hòa Bình - Hà Đông, Hòa Bình - Xuân Mai… nên có khả năng phải cắt 15-20% phụ tải ở một số khu vực của Hà Nội (quận Hà Đông và các huyện Đông Anh, Gia Lâm).
Trong số các công trình lưới điện cần đưa vào vận hành, công trình trạm biến áp 220kV Vân Trì, các đường dây 220kV Vân Trì - Sóc Sơn, Vân Trì - Chèm có tính cấp thiết nhất, vì ngoài vai trò cấp điện trực tiếp các phụ tải phía bắc TP, còn truyền tải nguồn điện vào khu vực trung tâm, giảm tình trạng đầy tải, quá tải cho các đường dây 220kV từ Nhà máy thủy điện Hòa Bình về Hà Nội và tăng tính tối ưu trong vận hành hệ thống.
Ngoài ra, năm nay EVN HNPC cũng tập trung thực hiện đưa vào vận hành trạm 110kV Phúc Thọ, Phùng Xá sau khi cải tạo, nâng công suất; xây dựng mới trạm Trôi và nhánh rẽ, trạm Linh Đàm, Bắc An Khánh, Quang Minh; cải tạo các đường dây Hà Đông - Vân Đình, Mai Động - Bờ Hồ, Đông Anh - Gia Lâm, Nghĩa Đô - Thanh Xuân - Thành Công, Văn Điển - Tía, Đông Anh - Vân Trì.
Để bảo đảm cấp điện cho Hà Nội, nhất thiết phải đưa các công trình lưới điện sau đây vào vận hành trong năm nay: Trạm 220kV Vân Trì và đường dây 220kV Vân Trì - Sóc Sơn (cuối quý I); đường dây 220kV Vân Trì - Chèm (quý II); trạm 220kV Thành Công, đường dây 220kV Hà Đông - Thành Công (cuối năm) và mở rộng nâng công suất trạm biến áp 220kV Sóc Sơn. Chưa kể tới các công trình nhằm tăng cường khả năng cấp điện cho Hà Nội, như đường dây 500kV Quảng Ninh - Thường Tín (mạch 2); cải tạo nâng khả năng tải đường dây 220kV Hòa Bình - Xuân Mai để tăng cường truyền tải điện từ Nhà máy thủy điện Hòa Bình về Xuân Mai, Hà Đông (quý I), Phả Lại - Phố Nối - Hải Dương để tăng cường truyền tải điện từ Nhà máy nhiệt điện Phả Lại, các nhà máy nhiệt điện Đông Bắc về Hà Nội; đường dây 220kV Đồng Hòa - Thái Bình - Nam Định (mạch 2); đường dây 110kV Bắc Giang - Quang Châu để giảm tải cho trạm biến áp 110kV Đông Anh.
Theo Thanh Mai - Hà Nội mới

Việt Nam thiếu nước trầm trọng


Việt Nam chính thức được xếp vào nhóm quốc gia thiếu nước.
Thông tin được các nhà khoa học chia sẻ tại hội thảo lần đầu tiên về an ninh nguồn nước do Viện Nghiên cứu Chiến lược, Học viện Ngoại giao (Bộ Ngoại giao) tổ chức ngày 1-11 tại Hà Nội.
Sông Hồng trơ đáy ngày 23-3-2011. Ảnh: Xuân Phú.
Loạn khai thác
Theo GS.TS Ngô Đình Tuấn, Chủ tịch Hội đồng Khoa học, Viện Tài nguyên Nước & Môi trường Đông Á, lượng nước mặt bình quân tính theo đầu người ở Việt Nam năm 2010 chỉ còn 3.850 m3/năm. Con số này đã đưa Việt Nam (VN) vào nhóm quốc gia thiếu nước với ngưỡng từ 4.000 m3/người/năm trở xuống (ngưỡng do Hội Tài nguyên Nước Quốc tế (IWRA) quy định).
Theo PGS.TS Bùi Công Quang, Trường Đại học Th ủy lợi, với dân số và mức độ phát triển hiện tại, theo tiêu chuẩn trên, lưu vực sông Đồng Nai và các lưu vực sông ở Đông Nam Bộ đang đối mặt nguy cơ thiếu nước không thường xuyên và cục bộ, trong khi các sông Hồng, Mã và sông Côn đang tiệm cận mức độ thiếu nước này.
Một trong những báo động về an ninh nguồn nước ở VN là tình trạng loạn khai thác nguồn nước, dẫn đến hiện tượng khai thác quá mức chịu đựng của hệ sinh thái. Bà Đỗ Hồng Phấn, cố vấn trưởng Mạng lưới Nước Việt Nam cho hay bà không tin được hầu hết các ủy ban lưu vực sông trong nước dựng lên chỉ để làm vì, hầu như không phát huy được vai trò điều phối và kiểm soát khai thác nước.
Lấy ví dụ ở hệ thống sông Đồng Nai, nơi đang tồn tại hai tổ chức quản lý là Ủy ban Bảo vệ Môi trường Lưu vực sông Đồng Nai và Ban Quản lý Quy hoạch Lưu vực sông Đồng Nai. Theo đánh giá của nhiều nhà khoa học, hai đơn vị này hoạt động hầu như không biết đến nhau, thể hiện điển hình trong việc xử lý hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A vừa qua.
Theo tiêu chuẩn quốc tế về “căng thẳng do khai thác nguồn nước”, vào mùa khô mấy năm gần đây, sáu trong số 16 lưu vực sông cả nước ta được xếp loại là “căng thẳng trung bình”, bốn lưu vực khác được xếp loại “căng thẳng mức độ cao” trong đó có sông Mã (Thanh Hóa), sông Hương (Thừa Thiên Huế) và sông Đồng Nai (Đông Nam Bộ).
Trên hầu hết các lưu vực sông ở Đông Nam Bộ, hơn 75% lượng nước mùa khô bị khai thác. Tại lưu vực sông Mã, tỷ lệ nước khai thác lên đến gần 80%. “Các tỷ lệ trên cho thấy các hoạt động khai thác nước quá mức đã và sẽ tạo nên mức độ rất không bền vững cho các lưu vực”, PGS.TS Bùi Công Quang nhận định.
Hiện tại, lượng nước được sử dụng hằng năm cho tất cả các mục đích khoảng 80,6 tỷ m3. Đến năm 2020, tổng lượng nước sử dụng sẽ tăng lên khoảng 120 tỷ m3, tức tăng thêm 48%. Trong số đó, nước cho tưới tăng 30%, cho nuôi trồng thủy sản tăng 90%. Đặc biệt, nước cho đô thị và công nghiệp sẽ tăng chóng mặt, lên đến mức 150% và 190% tương ứng.
Dự báo nhu cầu nước sẽ tăng đáng kể trên các lưu vực sông Trà Khúc, Côn, Ba, Sê San, Sre Pok, và các lưu vực sông ở vùng Đông Nam Bộ.
Lưu vực sông Đồng Nai - Báo động đỏ
Dự báo dân số tới năm 2020 cho thấy, các lưu vực sông Hồng, Mã, Côn, và ở Đông Nam Bộ sẽ ở ngang hoặc dưới mức thiếu nước nếu được quản lý và điều phối tốt. Tuy nhiên, khả năng rất cao là lưu vực sông Đồng Nai sẽ tiến gần tới mức thiếu nước nghiêm trọng nếu xét về tổng lượng nước hằng năm.
Khu vực sông Đồng Nai có khoảng 20 triệu dân. Đây là vùng kinh tế năng động bậc nhất cả nước, là đầu tàu cho nền kinh tế quốc gia, hằng năm đóng góp tới 1/3 tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Suy thoái nước ở lưu vực sông này, theo các nhà khoa học, sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến sức cạnh tranh của cả nước.
Vậy mà, ngay bây giờ, trên lưu vực con sông có tổng lượng nước chỉ bằng 1/3 trung bình cả nước này, còn chịu tải lực quá lớn của các công trình thủy điện ở thượng lưu.
Theo Tiền Phong Online

NGÀY NƯỚC THẾ GIỚI VÀ VẤN ĐỀ SÔNG MEKONG


Logo World Water Day 2012, mang rất nhiều ý nghĩa với “Nhánh Lúa và Cá” cũng là hai biểu tượng cho nguồn lương thực của con Sông Mekong. Đã có có một nền “Văn minh Lúa Gạo và Cá” trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong / GMS và nền văn minh ấy đang lâm nguy
NGÀY NƯỚC THẾ GIỚI VÀ NHỮNG CHỦ ĐỀ
Cách đây 19 năm kể từ 1993, Liên Hiệp Quốc đã chọn ngày 22 tháng 3 mỗi năm là Ngày Nước Thế Giới (World Water Day), do sáng kiến từ Hội nghị Môi sinh và Phát triển (United Nations Conference on Environment and Development – UNCED) tại Rio de Janeiro, Brazil [1992].

Có thể nói, nước là biểu hiện của sự sống, vì thế mỗi khi tìm ra tín hiệu có nước trên một vì tinh tú xa xôi thì các nhà khoa học thiên văn đã lạc quan cho rằng có thể có sự sống và sinh vật ở trên đó. Trái đất này sẽ là một hành tinh chết nếu không có nước. Nhưng trước mắt, thì thiếu nước đang là một vấn nạn ngày càng trầm trọng của thế giới chúng ta đang sống hiện nay.

Ngày Nước Thế Giới, như cơ hội để mọi người quan tâm tới tầm quan trọng của nguồn nước ngọt (freshwater) và cùng nhau vận động hỗ trợ cho những phương cách quản lý bền vững các nguồn nước ấy. Mỗi năm Liên Hiệp Quốc đều chọn ra một “chủ đề” cho Ngày Nước Thế Giới để tập trung vận động qua những cuộc hội thảo, qua các phương tiện truyền thông và giáo dục xoay quanh mỗi chủ đề này.
Điểm qua các chủ đề ấy theo thứ tự thời gian: 1994 Nước Nguồn tài nguyên chúng ta cùng bảo vệ; 1995 Nước và phụ nữ ; 1996 Nước cho các đô thị thiếu khát; 1997 Nước thế giới: Có đủ không? 1998 Nước ngầm: tài nguyên không thấy; 1999 Mọi người sống dưới nguồn; 2000 Nước cho thế kỷ 21; 2001 Nước cho sức khỏe; 2002 Nước cho phát triển; 2003 Nước cho tương lai; 2004 Nước và những thảm họa; 2005 Nước cho cuộc sống; 2006 Nước và văn hóa; 2007 Nước thiếu hụt trên thế giới; 2008 Nước và vệ sinh; 2009 Nước xuyên các quốc gia; 2010 Nước sạch và sức khỏe thế giới; 2011 Nước cho các đô thị…
NGÀY NƯỚC THẾ GIỚI NĂM NAY 2012
Ngày Nước Thế Giới 2012 năm nay với chủ đề “Nước và An ninh Lương thực”(Water & Food Security), do Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (Food and Agriculture Organization of the UN) điều hợp. Tổ chúc này nhận định: hiện có 7 tỉ người phải nuôi ăn trên hành tinh này; dự trù thêm 2 tỉ người nữa vào năm 2050. Mỗi chúng ta uống từ 2 tới 4 lít nước mỗi ngày; phần lớn lượng nước “uống” ấy nằm sẵn trong thực phẩm mà chúng ta ăn: để sản xuất 1 kg thịt bò cần tới 15.000 lít nước, trong khi 1 kg ngũ cốc cần 1.500 lít nước, 1 kg rau trái chỉ cần 1.000 lít nước nghĩa là 15 lần ít hơn. Hiện trạng trên thế giới đã có “một tỉ người đói kinh niên”(chronic hunger) và nguồn tài nguyên nước thì co cụm lại khắp nơi. Để đương đầu với tình trạng nổ bùng dân số, bảo đảm an ninh lương thực cho mọi người thì cần tới những hành động cụ thể như:
1) Tiêu thụ sản phẩm cần ít nước; (2) Giảm phí phạm lương thực: 30% lượng thực phẩm không bao giờ ăn tới, có nghĩa là mất một lượng nước lớn để sản xuất; (3) Gia tăng lượng lương thực nhiều hơn, có phẩm chất hơn và tiêu thụ nước ít hơn; (4) Theo một chế độ dinh dưỡng lành mạnh hơn, với ngũ cốc rau trái thay vì ăn nhiều thịt. Tất cả những bước ấy, từ quá trình sản xuất tới tiêu thụ, làm thế nào để tiết kiệm nguồn nước và bảo đảm lương thực cho mọi người. “Nước và An ninh Lương thực”, đó là trọng điểm trong cuộc vận động nhân ngày Nước Thế Giới 2012 năm nay.
José Graziano da Silva, tân Giám đốc Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (với nhiệm kỳ ba năm rưỡi 2012-2015) trong cuộc họp báo nhậm chức ở Rome ngày 3 tháng 01/ 2012 đã đưa ra một kế hoạch đầy tham vọng: hoàn toàn xóa nạn đói và suy dinh dưỡng trên toàn cầu. Ông phát biểu: “Chấm dứt nạn đói đòi hỏi quyết tâm của mọi người: không phải chỉ có Tổ chức Lương Nông, hay bất cứ cơ quan, chánh phủ riêng lẻ nào có thể thắng được cuộc chiến này, mà phải cần tới những phương thức hành động thật sự “trong sáng và dân chủ”(transparent and democratic way) cùng với các quốc gia thành viên, các cơ quan của Liên Hiệp Quốc, khu vực tư nhân, xã hội dân sự và các nhóm đầu tư khác.”
Người ta có thể thấy ngay là “phương thức hành động trong sáng và dân chủ” chính là điều rất thiếu vắng trong các quốc gia Mekong.Cách đây hai năm, nhân Ngày Nước Thế Giới 2010 với chủ đề “Nước sạch và sức khỏe thế giới”, Ngoại trưởng Hillary Roddham Clinton đã phát biểu: “Nước là một trong những cơ hội lớn về ngoại giao và phát triển trong thời đại chúng ta.” Bà Clinton nhận định tiếp: “Không phải mỗi ngày chúng ta tìm được một vấn đề mà hiệu quả về ngoại giao và phát triển giúp cứu sống hàng triệu sinh mạng, cứu đói, tăng sức mạnh phụ nữ, thăng tiến quyền lợi an ninh quốc gia chúng ta, bảo vệ môi trường, và cùng chứng tỏ với hàng tỉ người trên thế giới là nước Mỹ quan tâm tới sự an sinh của họ. Nước chính là nan đề đó.”
HỆ SINH THÁI SÔNG MEKONG
Mekong được đánh giá là một trong những hệ thống sông rạch phức tạp nhất thế giới, với chiều dài 4,900 km, là con sông dài thứ 11 của toàn cầu cũng là con sông dài nhất Đông Nam Á chảy qua 6 quốc gia, gần gấp hai chiều dài sông Colorado. Tài nguyên lưu vực con sông nuôi dưỡng 70 triệu cư dân, chỉ riêng nguồn cá đã đem lại hơn hai tỉ đô la Mỹ mỗi năm.
Lưu lượng Mekong tương đương với con sông Mississippi, giàu phù sa, rất biến thiên với hai mùa mưa nắng. Trong mùa mưa chỉ có khoảng 16% lượng nước đổ xuống từ Vân Nam Trung Quốc. Nhưng trong những tháng mùa khô, thì lượng nước thượng nguồn ấy lại tăng tới 40%. Do sự phức tạp của lưu vực sông Mekong, hiện tượng hạn hán và lũ lụt cũng rất biến thiên theo từng khúc đoạn từng vùng.
Biển Hồ và sông Tonle Sap là một hiện tượng thiên nhiên kỳ diệu, với một chu kỳ gần như độc nhất vô nhị trên hành tinh này: Tonle Sap là con sông chảy hai chiều và diện tích Biển Hồ thì co dãn theo mùa. Là hồ cạn với diện tích 2.500 km2 trong mùa khô, nhưng tới mùa mưa, bắt đầu từ tháng 6 tháng 7, do nước con sông Mekong dâng cao tạo sức ép khiến con sông Tonle Sap phải đổi chiều, nước từ khúc sông Mekong thượng nguồn chảy ngược vào Biển Hồ khiến nước hồ dâng cao từ 8 tới 10 mét và tràn bờ, làm tăng diện tích Biển Hồ gấp 5 lần lớn hơn, khoảng 12.000 km2. Joseph Yun, phụ tá Thứ trưởng Ngoại giao Đông Á và Thái Bình Dương đã đưa ra một so sánh rất tượng hình là lượng nước Biển Hồ ấy đủ để bao phủ toàn diện tích hơn 20 ngàn km2 của tiểu bang New Jersey với hơn ba mét nước cao.
Do tiềm năng dự trữ nước rất lớn theo mùa, Biển Hồ có thể điều hòa lưu lượng con sông Mekong, giảm thiểu lũ lụt trong mùa Mưa, duy trì dòng chảy tối thiểu trong mùa khô, đồng thời ngăn chặn nước biển không lấn sâu thêm vào vùng châu thổ.
Biển Hồ có một vai trò điều hợp sinh tử đối với hệ sinh thái vùng Hạ Lưu: không chỉ là vựa cá quan trọng nhất của Campuchia, mà nguồn nước ấy là thiết yếu cho vựa lúa cùng với kỹ nghệ nuôi cấy thủy sản như cá basa xuất khẩu của của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). ĐBSCL không chỉ là cái nôi lúa gạo cho toàn Việt Nam, vốn cũng là quốc gia xuất cảng gạo lớn thứ hai thế giới sau Thái Lan. Theo Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (United Nations Development Program) thì tình trạng sản xuất lúa gạo ở Việt Nam năm 2010, đã bị ảnh hưởng nặng nề do thay đổi khí hậu và do các con đập thủy điện thượng nguồn.
Có thể nói Sông Mekong là “mạch sống”(lifeline) của bao nhiêu triệu cư dân trong lưu vực. Nông và ngư nghiệp chiếm tới 85% lực lượng lao động: nông dân thì phụ thuộc vào nguồn nước và phù sa; ngư dân thì sống bằng nguồn cá thiên nhiên của con sông, cá không chỉ là nguồn protein động vật chính trong dinh dưỡng mà còn đem lại lợi tức đáng kể cho họ. Do đó nông và ngư dân lưu vực sông Mekong sẽ là những nạn nhân trực tiếp bị ảnh hưởng do bất cứ một thay đổi hủy hoại nào trong môi trường sống của họ.
Với thay đổi khí hậu, lưu vực sông Mekong sẽ là một trong những vùng chịu ảnh hưởng tác hại nhất, do đa số cư dân sống trên những cánh đồng lũ (floodplains) và các vùng ven biển thấp. Sự đa dạng sinh học của toàn vùng cũng bị đe dọa bởi những ảnh hưởng tích lũy trực tiếp hoặc gián tiếp do thay đổi khí hậu, cộng thêm với sự tác hại của những con đập thủy điện đầy những khiếm khuyết về phương diện kỹ thuật và đang phát triển vội vã như hiện nay.
Trong khi không thiếu bài học về “những dòng sông chết trên thế giới” mà các nhà lãnh đạo sông Mekong không chịu học hay cố tình không biết (wilful ignorance), vẫn theo ngôn từ của Milton Osborne; điển hình như con sông quốc tế Indus cũng phát nguồn từ cao nguyên Tây Tạng dài 3,200 km chảy qua hai nước Ấn Độ và Pakistan, vốn một thời là con sông hùng vĩ từng là cái nôi của những nền văn minh, nay chỉ vì do xây quá nhiều đập nên đã không còn đủ nước chảy ra tới biển Ả Rập.
Trở lại với con sông Mekong, chỉ để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển, các quốc gia Mekong vội vã hướng tới khai thác nguồn thủy điện của con sông này. Điều mà họ ít quan tâm tới là khi xây các con đập trên dòng chính có thể gây tác hại tức thời và cả lâu dài tới “an ninh lương thực” của bao nhiêu triệu cư dân trong lưu vực.
Tuy những hứa hẹn lợi nhuận to lớn trước mắt do thủy điện có thể đem lại, cái giá phải trả về kinh tế do các con đập gây ra rất cao. Mỗi con đập cho dù lớn nhỏ đều có ảnh hưởng trên dòng chảy và sinh cảnh của con sông. Chỉ một con đập xây không đúng chỗ như con đập Don Sahong Nam Lào, có thể ngăn chặn các đoàn di ngư, ảnh hưởng trực tiếp trên nguồn cá cũng là nguồn protein chính của cư dân trong lưu vực. Hoặc một con đập thiết kế kém với nhiều khiếm khuyết như con đập Sambor phía Bắc Campuchia, có thể làm giảm nguồn nước ngọt, làm mất nguồn phù sa, tăng nạn nhiễm mặn và ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất lúa gạo không chỉ của Campuchia mà cả ĐBSCL của Việt Nam.
Chuỗi đập bậc thềm Vân Nam (Lancang-Mekong Cascade) nơi lưu vực thượng nguồn (Upper Mekong Basin) chắc chắn có ảnh hưởng đáng kể đối với dòng chảy thiên nhiên của con sông Mekong. Theo Fred Pearce, thì vào đầu thập niên tới, chuỗi đập Vân Nam sẽ có khả năng giữ lại hơn nửa lưu lượng dòng chảy của con sông Mekong trước khi ra khỏi lãnh thổ Trung Quốc. Đối với Bắc Kinh, con sông Mekong đã trở thành “Tháp Nước và Nhà Máy Điện” của riêng họ. [6]
Nhưng chuỗi đập dòng chính nơi lưu vực hạ nguồn (Lower Mekong Basin) sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng hơn nhiều đối với các quốc gia hạ lưu, đặc biệt là với Biển Hồ của Campuchia và ĐBSCL của Việt Nam. Người ta đã nói tới những con đập dòng chính trên đất Lào, nhưng cũng đừng quên rằng ngay trên đất Campuchia đã có hai dự án Stung Streng 980 MW và Sambor 2.600 MW gây tác hại trực tiếp đối với sản lượng cá của Biển Hồ và làm mất nguồn phù sa nơi ĐBSCL. Chấp nhận xây dựng hai con đập ấy ngay trên đất Chùa Tháp, Phnom Penh như cầm súng tự bắn vào chân mình, một thứ self-inflicted injury – và Việt Nam cũng không tránh được những tổn thất liên hệ.
Không thể phủ nhận thủy điện vẫn là nguồn năng lượng giá trị, nhưng chỉ trong chừng nào mà cái giá rất cao phải trả về môi sinh được lượng định đúng mức và tiến hành một cách thận trọng và có trách nhiệm. Để có con đập thủy điện mới, có những cây cầu và đường sá mới không thể không đồng thời cũng phải đối chiếu với cái giá phải trả về môi trường và cả đối với cuộc sống cư dân ra sao. Ví dụ như nước Lào, với nguồn thủy điện phong phú có thể xuất cảng để thu về ngoại tệ cho phát triển kinh tế, nhưng nếu không có những bước nghiên cứu thận trọng thì đó chỉ là bước phát triển rất ngắn hạn, không bền vững với nhiều tổn thất trước mắt và lâu dài đối với môi sinh và cuộc sống xã hội của chính những người dân Lào.
SÔNG MEKONG ĐANG CHỊU QUÁ TẢI
Hệ sinh thái sông Mekong hiện đã có những dấu hiệu bị quá tải. Không phải chỉ có tác hại từ các con đập thủy điện mà còn thêm những ảnh hưởng tích lũy do ô nhiễm từ công nghiệp, nước thải, và phân bón hóa học từ canh nông.
Duy trì phẩm chất nguồn nước con sông Mekong là yếu tố vô cùng quan trọng cho “sức khỏe và lương thực” của 70 triệu cư dân trong toàn lưu vực. Nạn nhiễm mặn ngày càng gia tăng nơi ĐBSCL, nhất là trong những tháng mùa khô giảm lưu lượng dòng chảy khiến nước biển lấn sâu thêm vào vùng châu thổ phá hại mùa màng; lại thêm tình trạng đất phèn làm tăng độ acid trong nước, gây bội phát lượng rong tảo trong nước (eutrophycation), làm giảm lượng oxygen có thể tới ngưỡng tử vong làm chết cá và các động vật dưới nước.
Nước từ thượng nguồn đã bị ô nhiễm cộng thêm với nạn ô nhiễm dưới nguồn khiến hệ sinh thái của con sông càng ngày càng suy thoái. Xả các chất phế thải, cả phóng uế xuống sông là điều vẫn diễn ra thường ngày nơi ĐBSCL. Các quốc gia Mekong trong đó có Việt Nam gần đây cũng bắt đầu đề cập tới nạn ô nhiễm nước, nhưng đa số chỉ như những khẩu hiệu và để rồi không có biện pháp chế tài hay theo dõi hiệu quả nào.
CẦN SỰ CHỌN LỰA KHÔN NGOAN
Hội Nghị cấp Bộ trưởng 4 quốc gia hạ lưu Mekong tháng 12, 2011 đã có một quyết định là “tạm ngưng dự án đập thủy điện Xayaburi”, là con đập dòng chính đầu tiên trên sông Mekong bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc; để có thêm thời gian nghiên cứu về ảnh hưởng của con đập, và Nhật Bản được chính thức yêu cầu hỗ trợ cho cuộc khảo sát môi sinh này. Nhưng không có một dấu hiệu tích cực nào cho thấy chánh phủ Lào và tập đoàn kinh tài Thái Lan hoãn xây con đập ấy. Rõ ràng là tinh thần Hiệp định Mekong theo điều 7 trong “Hiệp ước Hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mekong 1995″ đang thực sự bị thử thách.
Sự phong phú của hệ sinh thái sông Mekong chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon, Nam Mỹ nhưng lại có một khác biệt lớn là hai bên bờ sông Mekong có cư dân sống với mật độ cao. Eric Baran một chuyên gia của Trung tâm Ngư học Thế giới (WorldFish Centre) đã từng hỗ trợ Ủy hội sông Mekong khảo sát ảnh hưởng của các đập thủy điện trên hệ sinh thái sông Mekong, đã phát biểu: “An ninh lương thực phải là vấn đề cốt lõi nhất (the most critical issue).” Đã có 781 chủng loại cá được xác định, nhưng còn nhiều chủng loại cá khác chưa được biết tới, trung bình mỗi năm có thêm 28 chủng loại mới được phát hiện trong thập niên qua. Mỗi năm ngư dân Mekong lưới bắt được 2,1 triệu tấn cá (3 triệu tấn một năm theo MRC 09-2008), chiếm khoảng 1/6 lượng cá nước ngọt thế giới.
Tiến sĩ Baran tiếp: “Kết hợp đặc tính của các đoàn di ngư và sự phụ thuộc của cư dân trên nguồn cá này là nét đặc thù duy nhất (unique), và “an ninh lương thực” trong lưu vực phải là mối quan tâm hàng đầu của các chánh phủ Mekong khi xây các con đập. Do đó không phải chỉ có bảo vệ môi trường và số người phải tái định cư, mà vấn đề còn lớn hơn rất nhiều. Khai thác thủy điện và an ninh lương thực trong lưu vực sông Mekong có lẽ là nét đặc thù duy nhất trên hành tinh này.”
Theo dự báo của MRC, thì tới năm 2030 với 88 con đập dòng chính và phụ lưu hoàn tất, sẽ có tới 81% các đoàn di ngư bị chặn lại, phải làm sao cùng với các bước phát triển xây đập mà vẫn bảo vệ được nguồn lương thực cho cư dân trong lưu vực. Do đó cần tới sự tái phối trí các dự án đập hiện nay, với nhận định rằng ảnh hưởng tác hại của các con đập thủy điện sẽ được giảm thiểu nếu là những con đập phụ lưu (tributary dams); hoặc nếu là đập dòng chính (mainstream dams) thì nên là những con đập ở vị trí ở xa lên phía thượng nguồn.
Theo chiều hướng đó, không nhất thiết là phải ngưng tất cả các dự án đập thủy điện nhưng nhóm nghiên cứu của Baran đưa ra những đề nghị cụ thể: (1) Các con đập sẽ không cao hơn 30 mét để có thể vẫn mở những đường đi hiệu quả cho cá (như chỉ riêng con đập Xayaburi cao 32 mét cũng đã ngăn chặn hơn 70 chủng loại di ngư). (2) Nên xây đập trên những dòng chảy nhân tạo (man-made canals) giống như ở Pháp và Âu châu, thay vì trên dòng chảy thiên nhiên, sẽ có tác dụng giảm hiểu tác hại tiêu cực trên dòng sông. (3) Những con đập nên được thiết kế cho mục đích đa dụng (multi-purpose structures) thay vì chỉ có sản xuất điện, nhằm giảm thiểu những tổn thất trên môi trường và xã hội.
TĂNG TRƯỞNG XANH LƯU VỰC SÔNG MEKONG
Không phải là ngẫu nhiên, một Hội nghị 6 quốc gia trong Lưu vực lớn sông Mekong (Greater Mekong Subregion – GMS), còn có một tên gọi khác là Tiểu vùng sông Mekong, bao gồm Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam, Myanmar và Trung Quốc, và cơ quan tài trợ là Ngân hàng Phát triển Á châu (ADB) đã diễn ra tại Bangkok trong hai ngày 20, 21 tháng 2, 2012 vừa qua. Hội nghị Bangkok đã như một cộng hưởng chuẩn bị cho Ngày Nước Thế Giới 2012 vào tháng 3 sắp tới, với nhận định: quản lý các nguồn lương thực, nước và năng lượng trong Lưu vực lớn sông Mekong là thử thách nghiêm trọng nhất trong thập niên tới đây. Tới năm 2030, nhu cầu lương thực của Lưu vực lớn sông Mekong gia tăng từ 20-50%, nhu cầu nước cho canh nông, cho phát triển năng lượng, cho gia dụng và công nghiệp cũng sẽ tăng theo cấp số nhân; trong khi nguồn nước trên mặt đất và nước ngầm thì ngày càng cạn kiệt và suy thoái.
“Cân bằng tăng trưởng kinh tế và sự bền vững môi trường”(Balancing Economic Growth and Environmental Sustainability)là chủ đề của của hội nghị với mục đích tìm ra một hướng đi tối ưu cho tăng trưởng kinh tế và bền vững môi trường. Điều ấy đòi hỏi những đầu tư khôn ngoan trong phát triển như: sử dụng nguồn năng lượng sạch, gia tăng trồng trọt với ít nước hơn, cải tiến kỹ thuật sinh học để giảm sử dụng phân bón hóa học, thu hoạch thêm lượng nước mưa và tái tạo nguồn nước từ các trung tâm đô thị.
Stephen P. Groff, Phó Chủ tịch Ngân hàng Phát triển Á châu đã phát biểu: “Chúng ta cần phác thảo một lộ trình / roadmap tới năm 2020 nhằm hỗ trợ người nghèo, hỗ trợ môi trường. Thách đố là làm sao gia tăng hiệu quả xử dụng tài nguyên, phục hồi và tái đầu tư các nguồn tài nguyên thiên nhiên ấy, đồng thời bảo vệ phẩm chất môi trường khi tạo công ăn việc làm và phát triển kinh tế.”
Ông Dương Đức Ưng, từ Việt Nam, đã cho RFA biết thêm một số thông tin từ hội nghị như: “Sự quan tâm không chỉ về an ninh lương thực mà cả an toàn thực phẩm phải gắn kết với nhau. Việt Nam hiện nay đã có an toàn lương thực cho mình rồi và xuất khẩu 7 triệu tấn lương thực ra thế giới, chỉ đứng sau Thái Lan”. [8] Theo nhận định của người viết thì thành tích phô trương ấy của Việt Nam đã không có gì mới, nhưng câu hỏi được đặt ra là liệu sẽ bền vững được bao lâu và phía Việt Nam có sáng kiến đóng góp được gì cho tầm nhìn xa chiến lược “phát triển xanh bền vững” của toàn Lưu vực lớn sông Mekong trong đó có ĐBSCL.
ADB đã thông qua 50 dự án liên quan tới bền vững môi trường Lưu vực lớn sông Mekong trị giá 4.8 tỉ đô la Mỹ. Các nhà lãnh đạo GMS đã đồng thuận về một “chiến lược tăng trưởng xanh” (green growth agenda) cho toàn vùng nhưng vấn đề vẫn là làm sao để theo dõi và thực thi một cách hiệu quả những cam kết ấy.
CÁI GIÁ QUÁ ĐẮT CHO PHÁT TRIỂN
Ngày Nước Thế Giới 2012 năm nay với chủ đề “Nước và an ninh lương thực”không chỉ là một thông điệp mỗi năm của Liên Hiệp Quốc gửi ra cho toàn cầu nhưng với khu vực Đông Nam Á – nơi đang có tranh chấp về quyền lợi khai thác con sông Mekong – thì lại có ý nghĩa báo động nghiêm trọng hơn nhiều đối với nền an ninh toàn vùng.
Bước vào thế kỷ 21, có thể nói các quốc gia Mekong, trong đó có Việt Nam tuy được coi là những quốc gia đang phát triển, nhưng theo những bước không bền vững. Và cái giá cao nhất mà thế hệ hôm nay và cả tương lai phải trả là mất nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, mất “an ninh lương thực” đưa tới viễn ảnh nghèo khó và quan trọng hơn thế nữa là chính sức khỏe của người dân sẽ là cả một gánh nặng về y tế do không có an toàn thực phẩm, thêm nạn ô nhiễm môi trường càng ngày càng trầm trọng nhất là về “nước và không khí”.
Nguồn: Bauxite Việt Nam